13007382-So_cuu_gay_chan-084ba

Cách sơ cứu khi bị gãy xương

Trong cuộc sống hằng ngày, khi sinh hoạt, lao động, chơi thể thao, nếu chúng ta sơ ý sẽ phải gặp những tai nạn không đáng có. Và một trong những tai nạn thường gặp nhất là gãy xương. Chắc chắn khi đó bạn phải tới bệnh viện nhưng trước khi tới bác sĩ chăm sóc, bệnh nhân cần phải được sơ cứu trước. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số loại gãy xương hay gặp và cách xử trí.

Gãy đốt sống cổ

Chấn thương cột sống cổ thường hay gặp do tai nạn giao thông, tai nạn lao động và để lại hậu quả nặng nề cho bản thân và gia đình như liệt, tử vong.

Cách xử trí: Không được để nạn nhân cố vận động mà phải đỡ đầu và cổ nạn nhân cho đến khi cán bộ y tế đến cấp cứu. Giải phóng bệnh nhân khỏi các vật cản như mũ, xe. Trong khi chờ xe cứu thương, việc nên làm là nới rộng cổ áo và lót một vòng đệm cổ. Có thể tự chế vòng đệm cổ bằng cách gấp 1 tờ báo lại với bề rộng khoảng 10cm. Sau đó dùng băng tam giác gói lại hoặc nhét tờ báo đã gấp lại đó vào trong một chiếc tất dài, đặt phần giữa của vòng đệm cổ vào phía trước của cổ ngay phía dưới cằm, xé quần áo nạn nhân quấn xung quanh cho êm, tạo thành một mảng nẹp. Quấn vòng đệm quanh cổ nạn nhân và buộc nút ở phía trước của cổ. Khi quấn phải bảo đảm chắc chắn rằng vòng đệm cổ không gây cản trở đường thở. Khi vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế phải cho nạn nhân nằm, tuyệt đối không được ngồi.

Gãy xương sống (gãy cột sống)

Xương sống nâng đỡ sức nặng các phần ở bên trên cơ thể là đầu, mình và hai tay. Cột sống chạy từ đáy hộp sọ xuống tới cùng lưng, trong đó có các tế bào thần kinh, các bó sợi thần kinh kết nối tất cả các bộ phận của cơ thể với não bộ. Xương sống khớp với hộp xương sọ, xương sườn, đĩa hông và là nơi bám của các cơ lưng.

Cách xử trí: Để nạn nhân nằm yên, gấp vải, chăn để dọc sát 2 bên thân. Đỡ vai và khung chậu của nạn nhân đặt đệm mềm vào giữa 2 chân. Buộc băng hình số 8 ở quanh cổ chân và bàn chân, buộc các dải băng to ở đầu gối và đùi. Khi đưa nạn nhân tới cơ sở y tế, phải đặt nạn nhân nằm cố định trên đệm cứng với tư thế duỗi thẳng trên một mặt phẳng, vì vậy cần nhiều người nâng đỡ.

Gãy khung chậu

Khung chậu có hình thể như 1 cái chậu thắt ở giữa gồm 2 xương chậu, xương cùng và xương cụt. Vì xương chậu là xương xốp nên khi gãy gây chảy máu nhiều, dễ bị sốc, hay tổn thương đến nội tạng và gây nhiều tai biến, có thể dẫn tới tử vong.

Cách xử trí: Đặt nạn nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng, dùng gối, chăn, màn mỏng kê ở dưới gối. Buộc 2 vòng băng to bản ở khung chậu, băng số 8 xung quanh mắt cá chân và bàn chân và băng 1 băng rộng bản ở đầu gối. Khuyên nạn nhân bất động, giảm đau, chống sốc và vận chuyển người bệnh nhẹ nhàng trên ván cứng về cơ sở y tế gần nhất để được điều trị.

Chấn thương cột sống lưng – thắt lưng

Đây là đoạn cột sống hay bị chấn thương nhất. Khi bị chấn thương, các đốt sống có thể bị gãy, các dây chằng đĩa đệm bị rách, đứt và vỡ. Chấn thương vùng thắt lưng có thể phối hợp với các thương tổn trong ổ bụng như chảy máu trong ổ bụng, vỡ ruột hoặc các nội tạng rỗng, tổn thương niệu quản, bàng quang, gan, lách.

Cách xử trí: Đặt nạn nhân lên một tấm ván cứng có chiều dài bằng cơ thể. Trong khi nâng nạn nhân lên cáng, cố gắng đừng để cột sống bị xoắn và gấp góc. Dùng vải buộc 2 chân bệnh nhân với nhau, buộc thân người và cố định đầu bệnh nhân vào cáng. Khi vận chuyển tới cơ sở y tế, không để bệnh nhân bị dịch chuyển, người bị nghiêng.

* Lưu ý: Nguyên tắc cơ bản để xử trí gãy xương là cầm máu (nếu chảy máu), bất động và kịp thời giảm đau tránh sốc. Có như vậy mới giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm như sốc do mất máu, liệt tứ chi, hoại tử chi do xương gãy chèn ép tủy. Trong quá trình vận chuyển nạn nhân tới bệnh viện, người bệnh cần phải được dùng thuốc giảm đau, truyền dịch, thở ôxy nếu thấy máu chảy nhiều, có dấu hiệu sốc. Tóm lại, việc nhận biết và sơ cứu gãy xương ban đầu rất quan trọng và cần xử lý sớm để tránh những biến chứng, tử vong không đáng có. Vì vậy, hãy tới bệnh viện ngay sau khi bạn bị ngã mà có dấu hiệu gãy xương.

BS. Nguyễn Thanh Xuân

than-kinh-hong-1ebdf

Các biểu hiện của bệnh đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông (thần kinh tọa) thường gặp khá nhiều trong cộng đồng, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (nữ giới chỉ gặp 1/3). Bệnh gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh hoạt, lao động, thậm chí gây tàn phế. Tuy vậy, bệnh đau thần kinh hông cũng có thể phòng ngừa nếu được quan tâm đúng mức.

Một số nguyên nhân thường gặp gây đau thần kinh hông

Tuổi từ 30 – 60 dễ gặp đau dây thần kinh hông. Đau dây thần kinh hông chủ yếu là đau rễ thần kinh thắt lưng 5 và rễ thần kinh cùng 1. Đau thần kinh hông liên quan mật thiết với tủy sống. Về mặt cấu tạo thì tủy sống nằm trong ống sống. Dọc theo cột sống thì mỗi đoạn tủy sống có một đôi rễ thần kinh tương ứng đi ra khỏi ống sống (mỗi bên một rễ thần kinh). Đôi rễ thần kinh này có chức năng chi phối vận động và chi phối cảm giác từng bộ phận của cơ thể. Đôi rễ thần kinh của thắt lưng số 5 và cùng 1 được gọi là thần kinh hông (thần kinh tọa).

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây đau thần kinh hông, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nhưng nguyên nhân xuất phát từ cột sống thắt lưng chiếm tỷ lệ cao hơn cả, trong đó thoát vị đĩa đệm đóng vai trò chủ yếu. Nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm gây nên đau thần kinh hông chiếm tỷ lệ rất cao (từ 60 – 90%). Đĩa đệm là phần cấu trúc không xương nằm giữa 2 đốt sống, được cấu tạo bởi các sợi rất chắc bao bọc xung quanh và ở giữa là nhân nhày. Đĩa đệm có tác dụng làm “giảm xóc” khi có lực nén tác động vào cột sống (từ trên xuống hoặc từ dưới lên). Khi lực tác động mạnh, đột ngột lên đĩa đệm thì làm cho các vòng sợi có thể bị rách và nhân nhày bị đẩy ra ngoài, chui vào ống sống hoặc chui vào vị trí thoát ra của rễ thần kinh thắt lưng số 5 và cùng 1 làm chèn ép rễ thần kinh và gây đau. Ở người đang độ tuổi lao động, khi làm việc nặng, quá sức, sai tư thế rất có thể bị tổn thương đĩa đệm.

Tổn thương đĩa đệm thường xảy ra cấp tính. Ở người tuổi xế chiều, đau thần kinh hông thường do thoái hóa đĩa đệm cho nênthường xảy ra mạn tính và hay tái phát. Đau thần kinh hông cũng có thể do có sự biến đổi bất thường ở đốt sống thắt lưng như trượt đốt sống số 5 do cơ học (bưng bê không cân xứng, mang vác nặng) hoặc do đốt sống thắt lưng đã hoặc đang thoái hóa. Đau thần kinh hông cũng có thể do u xương sống, nhiễm khuẩn (lao cột sống, viêm do tụ cầu…), viêm khớp cùng chậu, ung thư ở cơ quan khác di căn đến. Đau thần kinh hông cũng có thể do viêm đốt sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp làm thu hẹp ống sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh và có thể gây nên hội chứng “đuôi ngựa”. Viêm cột sống dính khớp thường gặp ở tuổi trung niên (dưới 40 tuổi), biểu hiện là đau âm ỉ thắt lưng, mông, đau nhiều về đêm và buổi sáng, thường có biểu hiện cứng khớp cột sống thắt lưng làm hạn chế vận động.

Ngoài ra, người ta cũng thấy đau thần kinh hông có thể có liên quan đến chấn thương trực tiếp vào dây thần kinh hông như bị gãy xương chậu hoặc bị tiêm trực tiếp vào thần kinh hông (tiêm mông sai kỹ thuật) hoặc do một loại thuốc dầu được tiêm mông rồi thuốc khuếch tán đến thần kinh hông hay do loãng xương gây thoái hóa khớp.

Biểu hiện của đau thần kinh hông

Đau thần kinh hông dọc theo đường đi của dây thần kinh, vì vậy, triệu chứng đau rất điển hình. Trước tiên là đau thắt lưng, sau đó đau lan xuống mông, đến mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, rồi lan xuống mặt trước mắt cá ngoài, mu bàn chân và vắt ngang qua ngón cái. Nếu tổn thương ở đốt sống thắt lưng số 5 thì đau ở vùng thắt lưng. Cơn đau thường tự nhiên, bột phát, liên tục nhưng có trường hợp đau cấp tính như dao đâm. Điển hình nhất của cơn đau là xuất hiện khi gắng sức cúi xuống để nâng một vật nặng bỗng thấy đau nhói ở thắt lưng, bắt buộc phải ngừng công việc. Sau một vài giờ, tuy không làm việc nặng nữa nhưng lưng vẫn bị đau và có trường hợp vài ba ngày sau đó lưng vẫn còn tiếp tục đau. Đau tăng lên và lan dọc theo dây thần kinh hông, nhất là khi ho, hắt xì hơi hoặc lúc rặn để đại, tiểu tiện. Cơn đau có thể giảm khi nằm nghỉ, nhất là được nằm trên mặt giường cứng.

Ngoài ra, cũng có thể thấy có cảm giác đau như kiến bò, tê cóng hoặc như kim châm ở bờ ngoài bàn chân, bắt chéo qua mu bàn chân và ngón cái hoặc ngón út bàn chân. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của ngành khoa học y học mà việc chẩn đoán đau dây thần kinh hông có nhiều thuận lợi hơn như chụp bao rễ thần kinh, chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Đau thần kinh hông nếu không được chữa trị nghiêm túc sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức lao động, lâu dần sẽ bị teo cơ và có thể gây tàn phế.

Cách phòng bệnh

Ngoài 30 tuổi, (nam và nữ) nên theo dõi mật độ xương định kỳnhằm phát hiện sớm hiện tượng loãng xương gây thoái hóa khớp, đặc biệt là người lao động chân tay hoặc người phải ngồi lâu, nhiều giờ trong 1 ngày và kéo dài nhiều tháng, nhiều năm. Hàng ngày, nên tập thể dục đều đặn để khí huyết lưu thông, thuận lợi cho việc nuôi dưỡng các cơ quan và các khớp xương. Cần có các động tác tập các khớp xương thích hợp, nhẹ nhàng, uyển chuyển, ví dụ như các động tác tập thể dục buổi sáng. Những người phải thường xuyên mang vác nặng cần thao tác đúng tư thế, tránh để xảy ra hiện tượng chấn thương lồi đĩa đệm hoặc trật, trượt khớp đốt sống. Khi bị thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm khớp cùng chậu, cần điều trị tích cực đúng theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa khớp. Người bị đau thần kinh hông cần điều trị tích cực theo chỉ định của bác sĩ để tránh bệnh trở thành mạn tính, thậm chí gây biến chứng teo cơ, tàn phế. Ngoài ra, cần ăn uống đủ chất và bổ sung lượng canxi cần thiết khi có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình.

PGS.Ts.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

9-02919

Chứng đau lưng ở người cao tuổi

Đau lưng là một căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, do thói quen xấu gây nên như: đi, đứng, nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khoảng 80% các trường hợp đau lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc cóý thức phòng bệnh.

Nguyên nhân gây đau lưng

Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản sau đây: do tác động cơ học và do hiện tượng viêm.

Đau lưng do tác động cơ học: đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm, bởi hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa, triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà buộc người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống còn có những nguyên nhân thuộc về cơ học như mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng…

Đau lưng do hiện tượng viêm: trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… Cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm đường tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh kiểu này thường gây đau lưng một cách âm ỉ và cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở người cao tuổi nhiều hơn người trẻ.

Làm gì khi bị đau lưng?

Khi người cao tuổi bị đau thắt lưng không nên tự “bắt bệnh” của mình và mua thuốc để điều trị mà cần đi khám ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán để được bác sĩ chẩn đoán sớm và đúng bệnh. Ngày nay, y học ngày càng phát triển cho nên việc chẩn đoán đau thắt lưng không gặp nhiều khó khăn như trước đây.

Người bệnh cần trả lời đầy đủ những câu hỏi của thầy thuốc và nói rõ những hiện tượng đau lưng và các biểu hiện kèm theo.

Việc điều trị sớm, đúng phương pháp, đúng phác đồ sẽ đưa lại hiệu quả cao hơn hẳn là chẩn đoán muộn và điều trị muộn, điều trị mang tính chất cầm chừng. Nếu đau thắt lưng do nguyên nhân cột sống thì ngoài điều trị thuốc Tây y, vật lý trị liệu người ta còn có thể kết hợp Đông y như châm cứu, bấm huyệt hoặc dùng thuốc.

Bệnh có thể phòng ngừa?

Đối với người cao tuổi nên phòng ngừa bằng cách hỗ trợ hoặc giúp tránh các căng giãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.

Để tránh đau lưng cần ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng.

Người cao tuổi cần chú ý khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được tổn thương cho lưng. Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

Đặc biệt với người lớn tuổi cần tập thế khi đứng, bụng thót phẳng, hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau.

Ngồi lâu gây nhiều khó chịu cho lưng, vì thế nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư giãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.

Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng. Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động người qua lại để thư giãn lưng. Vì sau thời gian dài ngủ xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.

Không hút thuốc lá, giảm cân nếu béo, vì béo phì làm mô mềm ở lưng căng cương.

Một số cách thư giãn cột sống

- Đứng thẳng, hai bàn chân xa ngang thân người, úp hai bàn tay lên ngang lưng. Đầu gối ngay thẳng, ưỡn lưng về phía sau càng xa càng tốt. Giữ nguyên vị trí trong vài ba giây rồi trở lại dáng điệu bình thường. Làm cùng động tác năm lần.

- Đứng ngay thẳng, tựa hai tay lên phía sau của thành ghế. Đầu gối thẳng, giơ một chân về phía sau càng cao càng tốt. Hạ chân xuống từ từ và làm cùng động tác với chân kia. Làm 5 động tác liên tiếp cho mỗi chân.

- Nằm sấp, hai chân duỗi thẳng, khuỷu tay gấp, hai bàn tay úp xuống sàn. Dùng hai tay đẩy thân mình lên càng cao càng tốt, mông và chân vẫn phẳng dưới sàn. Nhắc lại cùng động tác mười lần.

- Nằm ngửa, đầu gối gập lại, hai bàn chân để dưới đất. Từ từ nhấc đầu và vai khỏi sàn, hướng hai bàn tay về phía đầu gối, giữ vị trí trong mười nhịp đếm rồi nằm thẳng mình trở lại. Nhắc lại cùng cử động năm lần.

- Nằm sấp, chân tay đụng mặt bằng. Nâng cao một chân, đếm từ 1 – 10 rồi hạ chân xuống. Nhắc lại cùng cử động với chân kia. Làm năm lần mỗi chân.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

nhan-biet-thoai-hoa-co

Cách tự chẩn đoán thoái hóa cột sống cổ

Hội chứng thoái hóa đốt sống cổ còn được gọi là bệnh thoái hóa đốt sống cổ, là một loại bệnh thường hay gặp ở những người cao tuổi, người làm việc văn phòng; lái xe…

nhan-biet-thoai-hoa-co

Thoái hóa đốt sống cổ thường do các đốt sống bị tăng sinh, vôi hóa, biến dạng… chèn ép kích thích vào các tổ chức phần mềm xung quanh cột sống mà xuất hiện hàng loạt các triệu chứng như ép rễ thần kinh cổ, ép tủy sống cổ, rối loạn thần kinh giao cảm mạch máu vùng cổ và vai. Khi bị kích thích đột ngột hoặc chèn ép rễ thần kinh và tủy sống dẫn đến cung cấp máu không đủ ở động mạch sống nền, khi thần kinh giao cảm cổ bị kích thích có thể phát sinh rối loạn thần kinh giao cảm.

Người bị thoái hóa đốt sống cổ thường bị đau ở cổ, ở đầu, tai, trán, bả vai và cánh tay trên, ngón tay bị tê mỏi, lạnh, làm cho hoạt động phần cổ bị hạn chế (khi vận động mạnh bị đau dữ dội, khi đầu chuyển động đến một vị trí nào đó dẫn đến thiếu máu ở não) người bệnh cảm thấy nôn nao, chóng mặt, có lúc có thể xuất hiện hiện tượng chi dưới yếu hoặc bị ngã đột ngột. Người bị thoái hóa đốt sống cổ bị ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống. Trong lâm sàng sử dụng đồng thời nhiều phương pháp điều trị; biện pháp vận động cũng là một trong những phương pháp điều trị tích cực có hiệu quả nhằm làm giảm dần đau, tăng được tính đàn hồi dây chằng, các cơ thúc đẩy quá trình trao đổi chất, ổn định cơ năng của khớp là vô cùng quan trọng.

Khi cột sống cổ bị thoái hóa, mọc gai xương sẽ gây chèn ép vào các rễ thần kinh chi phối cho vùng bả vai và gây ra triệu chứng đau vai: Thoái hóa cổ 5, sẽ có rối loạn cảm giác ở phía vai ngoài, đau lan đến khuỷu, cơ delta, cơ trên gai, cơ nhị đầu. Thoái hóa C6 thì đau lan từ vai đến mặt ngoài cánh tay, tê ngón tay cái, có khi cả ngón 2. Thóa hóa C7 thì đau mặt sau vai lan đến cổ tay. Rối loạn cảm giác cơ tam đầu, cơ duỗi bàn tay và mu bàn tay và ngón tay 2 – 3, đôi khi cả ngón 4. Thoái hóa C8 thì đau ở mặt trong cánh tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, ngón 4 và ngón út.

TS.BS Võ Tường Kha

698caad58b-1-Thoat-vi-dia-diem

Dấu hiệu và các phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể gây tàn phế suốt đời do bị liệt, teo cơ chi, hay chứng đại tiện không tự chủ được do rối loạn cơ tròn, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người bệnh. Khi bệnh nhân bị bệnh thoát vị đĩa đệm ở giai đoạn năng nặng, điều trị thường tốn kém và phẫu thuật khá nguy hiểm, do đó cần chủ động phòng tránh.

Bệnh nhân Phạm Thị Tuyết Mai, tới điều trị thoát vị đĩa đệm tại bệnh viện Việt Đức là một ví dụ cho căn bệnh này. Bệnh nhân Mai đã bị thoát vị đĩa đệm 15 năm, cho biết lúc đầu chỉ là những cơn đau ở tay và chân, sau cơn đau lan dần và buốt. Như nhiều người, bệnh nhân đã tìm đến đông y để điều trị, dường như bệnh không khỏi và có dấu hiệu nặng hơn. Trải qua rất nhiều cuộc phẫu thuật ở nước ngoài, nhưng chỉ một thời gian ngắn bệnh lại tái phát.

Bệnh nhân Phạm Thị Tuyết Mai cho biết: “Ban đầu tôi có dấu hiệu tê chân, đau lưng, thì chỉ bảo tôi bị thoát vị đĩa đệm và chèn ép dây thần kinh. Chân tôi rất buốt, đau, đi không được, ngồi không được, thở cũng khó khăn, đồng thời đôi chân tím đen lại”.

Đĩa đệm cột sống là hình đĩa nằm giữa 2 đốt sống, có tác dụng giống như bản lề giúp cho cột sống được vững chắc, đặc biệt là giúp cho cơ thể vận động đoạn cổ và thắt lưng. Các nghiên cứu cho thấy thoát vị đĩa đệm không liên quan đến tuổi mà do thoái hóa đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Cột sống, Phó GĐ Bệnh viện Việt Đức cho biết: “Khi bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm là trong đĩa đệm đã kém nhân nhầy, các vòng cơ bị xơ hóa. Nhân nhầy là một phần cứng, do vậy khi viêm dị ứng như vậy sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm, có nghĩa khô đĩa đệm lại. Khi bị thoái hóa đĩa đệm, bệnh nhân có biểu hiện bị đau lưng, sau đó lan xuống chân. Tùy theo đĩa đệm bị thương tổn như thế nào, bệnh nhân sẽ thấy đau lan xuống mặt sau của đùi hoặc đau xuống bàn chân, gót chân. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống (thắt lưng) bệnh nhân có thể không đi lại được, không có khả năng co chân. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, nếu nặng bệnh nhân có thể bị liệt hoàn toàn”.

Thoát vị đĩa đệm được chia ra làm 4 giai đoạn, những người mới ở giai đoạn đầu chỉ điều trị bằng nội khoa và phục hồi chức năng. Ở giai đoạn 2 và 3 có thể điều trị bằng sóng cao tần. Các bác sĩ cho biết, trong 100 trường hợp bị thoát vị đĩa đệm thì chỉ có 7 trường hợp phải phẫu thuật.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch cho biết thêm: “Sóng cao tần là phương pháp điều trị, tái tạo nhân nhầy đĩa đệm bằng sóng cao tần. Có nghĩa, sẽ phục hồi lại đĩa đệm bị thương tổn nhưng chưa hỏng hoàn toàn. Hai giai đoạn sau, bệnh nhân đều phải điều trị bằng phẫu thuật nội soi, điều trị thoát vị đĩa đệm lệch bên trái hoặc bên phải. Với cách điều trị bằng sóng cao tần, sẽ rất an toàn đối với bệnh nhân, khi điều trị bệnh nhân có thể tỉnh hoàn toàn”.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm, người bệnh cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực.

images_635092084986532388

Phòng và điều trị bệnh lý thoái hóa cột sống

Thoái hóa cột sống là căn bệnh thường gặp ở độ tuổi trung niên. Tuy nhiên hiện nay, nhiều người trẻ có thói quen vận động, làm việc không khoa học cũng sớm mắc các bệnh lý về cột sống.

Các nghiên cứu cho thấy cột sống được xem như một trụ cột chống đỡ sức nặng của trọng lượng cơ thể. Cột sống bao gồm nhiều đốt xương sống riêng lẻ nhờ hệ thống dây chằng và cơ kết nối chúng lại thành một trục. Dọc theo chiều dài cột sống ở phía sau có chứa tủy sống và dây thần kinh đi từ trên não xuống. Khi có một nguyên nhân nào đó làm thay đổi cấu trúc này thường gây ra bệnh về cột sống.

Theo các bác sĩ, vị trí thoái hóa cột sống bao gồm: Cổ, lưng, thắt lưng. Nguyên nhân thường gặp là do lão hóa cơ thể, vì thế, bệnh thường xuất hiện ở tuổi 35, 40 trở lên.

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật cột sống, PGĐ Bệnh viện Việt Đức cho biết: “Bệnh lý cột sống thường hay gặp nhất là thoái hóa cột sống. Thoái hóa cột sống có nghĩa các đốt sống mọc gai, khi bị bệnh này bệnh nhân chỉ cảm thấy đau lưng mà không có chèn ép lên rễ thần kinh. Trường hợp hay gặp tiếp theo cũng do thoái hóa cột sống là bệnh trượt đốt sống, đặc biệt trượt đốt sống thường hay xảy ra ở phụ nữ”.

Để nhận biết bệnh thoái hóa cột sống, có thể căn cứ vào một số biểu hiện điển hình sau: Cơn đau tại các vùng cổ, thắt lưng, gáy xuất hiện thường xuyên, âm ỉ, gây hạn chế vận động của cột sống, hay đau tăng khi vận động, dáng đi không bình thường, cong vẹo. Ngoài ra, cơn đau dai dẳng sẽ khiến người bệnh mệt mỏi vì mất ăn, mất ngủ, sức làm việc giảm sút…

PGS.TS Nguyễn Văn Thạch cho biết thêm: “Khi xuất hiện các triệu chứng chèn ép thần kinh, đau chân hoặc tê chân, bệnh nhân đi bộ không đi xa được… bệnh nhân sẽ phải mổ và nắn chỉnh. Về liệu trình điều trị, một mặt là chống thoái hóa bằng các thuốc chống viêm và dị ứng; làm giãn cơ bằng thuốc giãn cơ hoặc kéo giãn bằng phương pháp vật lý hoặc bằng phục hồi chức năng để làm mềm cơ. Ngoài thuốc giảm quá trình thoái hóa, hiện nay còn có thuốc làm phục hồi mặt sụn, do khi bị bệnh toàn bộ mặt xốp của sụn bị rỗ và thoái hóa dần tùy theo mức độ và giai đoạn”.

Các bác sĩ khuyến cáo trong điều trị bệnh thoái hóa cột sống, người bệnh cần đặc biệt chú ý đến chế độ sinh hoạt, làm việc và sử dụng thuốc hoặc sản phẩm bổ sung. Khi bị những cơn đau hành hạ nên nằm nghỉ, thả lỏng người trên giường cứng. Với các cơn đau cấp tính, cần xoa bóp, chườm nóng để làm giảm cơn đau. Khi đã từng bị đau lưng do thoái hóa cột sống một lần, lại càng phải giữ gìn, không để tái phát khiến bệnh tình trầm trọng hơn.

Để phòng thoái hóa cột sống người lao động chân tay nên nhớ không mang vác quá sức, không nhấc vật quá nặng, tránh những động tác sai tư thế khi bưng, bê, vác, đẩy… tránh tổn thương cột sống. Bên cạnh đó, việc tập thể dục thường xuyên, vừa sức cũng mang lại lợi ích to lớn cho xương khớp.

loang-xuong-3f935-6f8eb

Phòng ngừa loãng xương sau mãn kinh

Loãng xương là bệnh lý của hệ thống xương làm giảm tỉ trọng khoáng chất của xương kết hợp với sự hư biến cấu trúc của xương làm cho xương mỏng mảnh và yếu đến mức rất dễ gãy dù bị chấn thương rất nhẹ, thậm chí có thể gãy tự nhiên. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi, nhất là nữ giới sau mãn kinh và là nguyên nhân dẫn đến gãy xương, tàn phế nếu không biết cách phòng ngừa.

Vì sao loãng xương?

Loãng xương có thể do tiên phát hoặc do thứ phát.

Loãng xương tiên phát (týp 1): xuất hiện từ trên 5 năm sau tuổi mãn kinh, còn gọi là loãng xương sau mãn kinh. Trong 5-10 năm đầu của thời kỳ mãn kinh, tốc độ mất xương có thể lên đến 2-4% khối lượng xương mỗi năm. Đặc trưng của loãng xương này là sự mất xương chủ yếu ở xương xốp và thường gây ra gãy lún các đốt sống, gãy đầu dưới xương quay. Trong loãng xương sau mãn kinh, ngoài thiếu hụt oestrogen người ta còn thấy giảm tiết hormon cận giáp tăng tiết canxi qua thận, suy giảm hoạt động vitamin D 3 dẫn tới giảm hấp thu canxi ở ruột.

Loãng xương tiên phát (týp 2): liên quan đến tuổi, xuất hiện ở nữ nhiều gấp 2 lần nam, là hậu quả của sự mất xương chậm trong vòng vài chục năm, biểu hiện chính là gãy cổ xương đùi, gãy lún các đốt sống do tổn thương xuất hiện đồng đều trên cả xương đặc (vỏ xương) cũng như xương xốp (bè xương). Loại loãng xương này liên quan tới hai yếu tố quan trọng là giảm hấp thu canxi, giảm chức năng tạo cốt bào, dẫn tới cường cận giáp trạng thứ phát.

Loãng xương thứ phát: Được phát hiện ở cả hai giới và thường là hậu quả của một số bệnh ảnh hưởng tới rối loạn chuyển hóa chất khoáng của xương.

Hình ảnh xương bình thường (trái) và loãng xương

Biểu hiện khi bị loãng xương

Đau cột sống: Đau cột sống lưng hoặc cột sống thắt lưng cấp xảy ra sau 1 tuần và tương ứng với việc nén xương đột ngột do gắng sức nhẹ, ngã hoặc một động tác sai. Tiếng kêu rắc khi vận động thường đi kèm với đau, có khi buộc phải nằm nghỉ. Cơn đau cấp tính liên hệ tới sự nén cột sống kinh diễn, nặng lên khi có một gắng sức do ngồi hoặc đứng ở tư thế kéo dài, đỡ đau khi nghỉ ngơi.

Biến dạng cột sống: thường nặng và sau nhiều năm mới xảy ra, lưng còng, xẹp đốt sống, chiều cao giảm dần theo tuổi (sự giảm này có thể bằng hoặc giảm quá 12cm). Khi sờ có thể thấy các xương sườn ở cuối cùng chạm mào chậu. Đến giai đoạn này thì sự giảm chiều cao sẽ ngừng lại.

Gãy xương: thường ở phần thấp cẳng tay, cổ xương đùi, cổ xương cánh tay, xương sườn và cột sống. Thấy rất đau cột sống và mất đi sau nghỉ ngơi 4-6 tuần, không gây ra ép tủy; gãy xương đùi có thể nguy hiểm cho người bệnh vì các biến chứng do nằm lâu ảnh hưởng tới vận động trong tương lai; Nén đốt sống thường xảy ra ở tuổi 55-70, còn gãy cổ xương đùi thường xảy ra muộn hơn; gãy xương chậu cũng thường xảy ra.

Điều trị và phòng bệnh

Điều trị bệnh loãng xương bao gồm những biện pháp như: thuốc chống đau giãn cơ, vận động thể dục thể chất phù hợp (đặc biệt duy trì trọng lượng cơ thể, tập lưng thẳng, tập bụng). Đề phòng té ngã khi đi đứng, chế độ ăn hợp lý, giảm hoặc ngưng các yếu tố nguy cơ, sử dụng nẹp lưng chỉnh hình, sử dụng thuốc điều trị thích hợp.

Chúng ta cũng biết rằng, cùng với tuổi tác, canxi cũng giảm từ từ một cách không tránh được, từ 20-80 tuổi khối lượng xương mất theo tuyến tính khoảng 30%. Ở phụ nữ nặng hơn vì thêm rối loạn sau mãn kinh, tỷ lệ có thể tới 40% ở tuổi 80. Để phòng bệnh hiệu quả, các biện pháp sau đây cần được chị em quan tâm đúng mực.

Liệu pháp vận động, không vận động nhất là bệnh nhân bị bất động tại giường sẽ làm nặng thêm tình trạng loãng xương trong các đợt đau cấp đúng vào lúc cột sống xảy ra nên cột sống bệnh nhân cần được nghỉ ngơi và dùng thuốc chống đau. Nhưng tránh bất động hoàn toàn. Cần phải vận động thụ động và chủ động các chi để duy trì vận động các khớp và cơ, phòng các biến chứng nằm lâu. Trường hợp có điều kiện, cho bệnh nhân vận động trong bể nước nóng. Việc vận động trong bể nước nóng bị chống chỉ định khi có một bệnh phủ tạng kết hợp với loãng xương. Mặc áo nịt ngực cứng hoặc nửa cứng giúp bệnh nhân dễ ngồi dậy nhưng chỉ trong một vài tuần sau khi bị nén cột sống. Ngoài cơn đau phải hướng dẫn bệnh nhân vận động nhẹ cột sống, thở nhẹ và sâu dần tránh vận động quá mạnh có thể gây gãy xương. Nếu có thể cho bệnh nhân bơi từng đoạn ngắn.

Chế độ ăn: Chế độ ăn cần cung cấp đủ năng lượng và đủ chất canxi. (thực phẩm giàu canxi là tôm, cua, trứng, sữa…). Trong điều kiện có thể, mỗi ngày nên uống 1/4 lít sữa tươi hoặc 2 hộp sữa chua.

Thực ra, đề phòng loãng xương ở tuổi sau mãn kinh người ta phải chú ý tới chế độ ăn và luyện tập từ khi còn trẻ.

BS. Trần Quang Nhật

Cách giảm biến chứng thiểu năng tuần hoàn não

Bệnh thiểu năng tuần hoàn não (hay thiếu máu não) là trạng thái nhất thời, xảy ra đột ngột do các thiếu sót về chức năng thần kinh, thường hồi phục hoàn toàn sau 24 giờ và có xu hướng lặp lại nhiều lần, thường gặp ở những người đứng tuổi, đặc biệt ở người lao động trí óc. Thiểu năng tuần hoàn não có thể diễn tiến lâu ngày và gây biến chứng nặng nề khiến bệnh nhân đột quỵ, nhồi máu não nên rất nguy hiểm đến tính mạng.

Vì sao bị thiểu năng tuần hoàn não?

Não được nuôi dưỡng bởi hai hệ động mạch chính: hệ động mạch cảnh ở phía trước chi phối toàn bộ phần lớn bán cầu đại não và hệ động mạch đốt sống thân nền ở phía sau. Giữa chúng còn có một hệ thống kết nối, liên kết với nhau trên bề mặt vỏ não và nền sọ để bù trừ khi một nhánh nào đó bị tắc hay đột ngột có vấn đề không bảo đảm đủ máu nuôi não. Có rất nhiều nguyên nhân gây thiếu máu não:

Xơ mỡ động mạch làm hẹp lòng ống để chứa máu và vận chuyển là nguyên nhân chính, chiếm 60 – 80%. Vữa xơ động mạch khu trú tại nơi xuất phát của động mạch não sau hoặc chỗ phân đôi của các động mạch, đoạn cuối động mạch đốt sống. Khi gặp các yếu tố kết hợp khác như huyết áp động mạch thấp sẽ có những biểu hiện của triệu chứng thiểu năng tuần hoàn não.

Một nguyên nhân khác là tình trạng thoái hóa cột sống cổ, tùy mức độ thoái hóa khớp, mấu gai bên đốt sống gây chèn ép động mạch đốt sống. Đặc biệt một số động tác như quay đầu cổ đột ngột, hoặc gập cổ quá mức có thể chèn ép gây cản trở đường đi của động mạch đốt sống đối bên ở đoạn cổ (C1). Các bất thường bản lề đốt sống cổ C1 và lỗ chẩm cũng là những nguyên nhân hiếm gặp của thiểu năng tuần hoàn não. Các dị dạng bẩm sinh hay u, sùi, bóc tách thành mạch làm hẹp lòng mạch; các cục máu đông gây cản trở dòng tuần hoàn máu… cũng có thể gây thiếu máu não.

Các biểu hiện thường thấy

Các triệu chứng của bệnh lúc đầu thường xuất hiện thoáng qua, sau tiến triển, hay tái phát. Các tổn thương có thể lan tỏa rải rác hoặc có khi khu trú. Bệnh nhân thường có những biểu hiện: nhức lan tỏa khắp đầu, có cảm giác căng nặng trong đầu, nhất là mỗi khi phải suy nghĩ nhiều, đây là triệu chứng hay gặp nhất; đau sau gáy, vùng chẩm, đôi khi đau âm ỉ hoặc từng cơn lan lên nửa bên đầu; chóng mặt và rối loạn thăng bằng, cảm giác lảo đảo thoáng qua hoặc xoay tròn. Các cảm giác trên có thể thoáng qua hoặc tăng lên khi thay đổi tư thế kéo dài nhiều giờ đến vài ngày, có thể tự hết hoặc dùng thuốc chữa triệu chứng đỡ; rối loạn vận nhãn, nhìn đôi, nhìn sang hai bên mờ hoặc có ám điểm kéo dài trong vài giây, vài phút. Các triệu chứng này xảy ra đột ngột khi từ nằm chuyển sang ngồi hoặc đứng. Có thể gặp ảo thị; các rối loạn vận động, cảm giác hai chân như bị lấy đi đột ngột, không chóng mặt, không rối loạn ý thức, xảy ra khi ngửa đầu hoặc quay đầu đột ngột, gây thiếu máu thoáng qua ở cột tháp vùng hành não. Trong người luôn cảm thấy bồn chồn, không hoàn toàn làm chủ được mình, dần dần trở thành người trái tính, trái nết. Ngoài ra, còn hay mủi lòng, dễ tủi thân và đặc biệt là rất đãng trí.

Ngoài ra, người bệnh còn có thể gặp các triệu chứng khác như ù tai, giảm thính lực một bên hoặc hai bên thoáng qua. Rung giật nhãn cầu, hội chứng tiền đình, chóng mặt buồn nôn và nôn…

Khi có các triệu chứng trên, người bệnh nên đến bệnh viện khám sớm để được làm các xét nghiệm cần thiết giúp chẩn đoán căn nguyên để điều trị có hiệu quả, tránh xảy ra các biến chứng nguy hiểm như nhũn não, đột quỵ…

Cần có các xét ngiệm kiểm tra định lượng các thành phần mỡ trong máu như cholesterol, HDL-cholesterol, LDL-cholesterol, triglycerid… Chụp Xquang thường quy cột sống cổ các tư thế thẳng nghiêng, chếch 3/4 hai bên đánh giá tình trạng thoái hóa cột sống gây hẹp các lỗ liên kết nơi mạch máu thần kinh đốt sống đi qua… Cần thiết phải siêu âm Doppler mạch máu khi phát hiện tiếng thổi tâm thu trên đường đi của động mạch đốt sống hoặc hõm dưới đòn, phát hiện hẹp động mạch dưới đòn… làm xuất hiện tình trạng thiếu máu não cấp tính.

Phòng và chữa bệnh thế nào?

Bản chất các tổn thương ở não trong thiểu năng tuần hoàn là do thiếu ôxy và glucose làm tế bào thần kinh bị đói năng lượng – gây rối loạn vận chuyển các ion làm tổn thương tế bào thần kinh. Việc điều trị chủ yếu làm sao cho mạch máu không còn bị hẹp và không gây ra các cục đông vón trong lòng mạch làm cản trở dòng chảy của máu như dùng thuốc: aspirin, ticlcodipin, dipiridamol, các thuốc chống đông máu…

Điều quan trọng là tìm được các nguyên nhân gây thiểu năng tuần hoàn não để điều trị tận gốc. Nếu phát hiện thấy các dị dạng mạch máu não cần phẫu thuật hay tìm các biện pháp giải quyết triệt để tránh xảy ra tai biến. Sử dụng các chất bổ giúp phục hồi hoạt động của các tế bào thần kinh: cerebrolysin, gliatilin, vitamin nhóm B… Nếu huyết áp thường xuyên thấp, nên dùng các thuốc nâng huyết áp hoặc uống trà gừng, trà sâm hằng ngày vào buổi sáng.

Hiện nay có rất nhiều loại thuốc chữa triệu chứng chóng mặt, tùy cơ chế bệnh sinh, có thể với bệnh nhân này hiệu quả với thuốc này nhưng lại ít hiệu quả với bệnh nhân khác. Một số thuốc nguồn gốc Đông y cũng được sử dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, để điều trị bệnh an toàn, bệnh nhân cần phải được khám bệnh kê đơn tại các cơ sở y tế chuyên khoa.

Ngoài ra, tập luyện thể lực thường xuyên, yoga, dưỡng sinh cũng giúp tăng cường khả năng điều hòa và góp phần giảm bớt sự hẹp lòng mạch và vì thế giảm được nguy cơ của chứng thiểu năng tuần hoàn não.

BS. Nguyễn Anh Tuấn

IMG-3944-JPG-2045-1382405167

Bệnh loãng xương có thể nhầm với đau cột sống

Bệnh loãng xương ít có triệu chứng điển hình, khi biểu hiện thì thường dưới dạng đau cột sống thắt lưng hay đau nhức xương. Tuổi thọ trung bình dân số ngày càng cao, do người dân tiếp cận các dịch vụ y tế dễ dàng hơn. Tuy nhiên, tần suất xuất hiện của những bệnh tuổi già sẽ gia tăng, trong đó có bệnh loãng xương. Tại Việt Nam, dự báo số người loãng xương vào năm 2030 là 4,5 triệu, số người bị gãy xương là 262.000.

Trò chuyện tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe TP HCM cuối tuần qua, bác sĩ Nguyễn Đình Thông, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương cho biết, loãng xương là một bệnh nội tiết với hai đặc điểm chính là lực của xương bị suy yếu, cấu trúc xương bị suy giảm và hậu quả là gãy xương.

Khi đã bị gãy xương thì bệnh nhân lại tăng nguy cơ xuất hiện những hậu quả nghiêm trọng khác như tăng nguy cơ gãy xương thêm một lần nữa, làm giảm tuổi thọ, mắc nhiều biến chứng khác, chất lượng cuộc sống giảm đáng kể….

Loãng xương có hai loại là loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát. Loãng xương nguyên phát xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh tự nhiên từ 5 đến 10 năm, hoặc phụ nữ mãn kinh sớm do đã phẫu thuật cắt buồng trứng, do bệnh lý và loãng xương người già xuất hiện ở cả nam lẫn nữ sau 70 tuổi. Loãng xương thứ phát là do bệnh khác gây ra hay do dùng các loại thuốc điều trị bệnh khác nhưng có tác dụng phụ làm loãng xương.

Theo bác sĩ Thông, loãng xương ít có triệu chứng điển hình, triệu chứng thường chỉ xuất hiện khi khối lượng xương giảm trên 30%. Triệu chứng thường biểu hiện dưới dạng đau cột sống thắt lưng hay đau nhức xương. Những triệu chứng trễ của loãng xương như là gãy lún đốt sống làm xẹp đốt sống, làm cho chiều cao của cơ thể giảm đi so với thời trẻ, xuất hiện gù lưng, gãy cổ xương đùi, gãy xương cổ tay, viêm cơ khớp…

Vì triệu chứng của loãng xương có thể nhầm lẫn với triệu chứng của bệnh khác như thoái hóa cột sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm…, nên cần chú ý đến các yếu tố nguy cơ như sau:

- Từng bị gãy xương sau 30 tuổi.

- Tiền sử gia đình có người bị gãy xương, đặc biệt là có cha mẹ bị gãy xương sau tuổi 50.

- Uống rượu, hút thuốc lá hơn 20 điếu mỗi ngày.

- Cơ thể nhẹ cân, thấp bé.

- Tuổi cao.

- Ít vận động, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

- Bất động trên 6 tháng.

- Khẩu phần ăn ít canxi.

- Mãn kinh sớm (trước tuổi 35).

- Dùng thuốc có tác dụng phụ làm loãng xương.

- Bệnh khác làm loãng xương như suy thận mạn, viêm khớp mạn tính, cường cận giáp…

Bác sĩ Thông lưu ý, cần đo mật độ xương đối với phụ nữ trên 65 tuổi, nam trên 70 tuổi. Ngoài ra, một số người có chỉ định đo mật độ xương là phụ nữ dưới 65 tuổi có ít nhất một yếu tố nguy cơ (ngoài yếu tố mãn kinh) như đã nêu, bệnh nhân có dấu hiệu loãng xương trên phim Xquang, nghi ngờ loãng xương ở những bệnh nhân dùng corticoid kéo dài, cường cận giáp nguyên phát, thứ phát không triệu chứng, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp…

Việc điều trị loãng xương hiện nay nhằm phòng chống hay giảm nguy cơ gãy xương, ngăn chặn tình trạng mất chất khoáng và cải thiện chất lượng xương. Đối với bệnh nhân đã gãy xương thì việc điều trị giúp ngăn chặn nguy cơ gãy xương lần kế tiếp.

Phòng ngừa bệnh loãng xương:

- Gia tăng khối lượng xương đỉnh bằng dinh dưỡng, tập luyện khi còn nhỏ.

- Tránh các yếu tố nguy cơ loãng xương có thể can thiệp được.

- Điều trị tốt các bệnh có thể gây loãng xương.

- Ngưng hút thuốc lá.

- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ canxi và vitamin D.

- Tập thể dục mỗi ngày, giữ cân nặng hợp lý, tránh té ngã.

Theo Kienthuccuocsong.edu.vn

Cách phát hiện sớm gù vẹo cột sống

Gù vẹo cột sống không chỉ gây ra cho đứa trẻ sau này một nỗi buồn lớn về vẻ đẹp mà còn gây sức ép lên hệ hô hấp, tim mạch. Cha mẹ phát hiện sớm, vì chúng tiến triển âm thầm, để loại bỏ nguy cơ.

Vẹo cột sống là một tật, một biến dạng của cột sống trong đó cột sống bị cong lệch sang một bên, theo định nghĩa. Nó thường xuất hiện trong giai đoạn phát triển mạnh của trẻ, thường trước tuổi dậy thì.

Hầu hết các trường hợp vẹo cột sống đều là vẹo nhẹ, nhưng một số trẻ em tiếp tục diễn tiến nặng khi lớn lên. Vẹo cột sống nặng có thể gây tàn tật cho trẻ, làm giảm thể tích bên trong lồng ngực gây ảnh hưởng xấu đến chức năng hô hấp.

Triệu chứng âm thầm


Các dạng gù vẹo cột sống.

Cha mẹ có thể “dự báo” đến vẹo cột sống khi thấy trẻ có các dấu hiệu này: Hai vai không đều (vai lệch sang một bên), xương bả vai nhô cao một bên, hai bên hông không đều nhau, mào chậu nghiêng sang một bên hoặc chân cao chân thấp.

Nếu cột sống vẹo nhiều, thường kèm theo biến dạng xoay. Có thể vẹo hai, ba đường cong và kèm theo gù lưng.

Ngoài ra còn có thể có triệu chứng đau lưng, khó thở.

Khi phát hiện bất kỳ triệu chứng nào như trên, phụ huynh nên đưa trẻ đến khám ngay bác sĩ chuyên khoa vì các trường hợp vẹo cột sống nhẹ cũng có thể diễn tiến âm thầm thành vẹo cột sống nặng hoặc rất nặng.

Ba nguyên nhân

Phần lớn mọi quý cha mẹ đều dặn trẻ nhỏ ngồi học cho thẳng lưng để tránh vẹo lưng. Đó là thói quen tốt. Tuy vậy, về bệnh học, đa số trường hợp vẹo cột sống không xác định được nguyên nhân mặc dù vẹo cột sống có liên quan đến yếu tố di truyền, gia đình.

Một số loại vẹo cột sống được biết gây ra bởi: Bệnh lý thần kinh-cơ (bại não), loạn dưỡng cơ, dị tật bẩm sinh cột sống, chấn thương hoặc nhiễm trùng cột sống.

Yếu tố tăng nặng

Quý cha mẹ có thể “dự báo” dựa vào các yếu tố nguy cơ tăng nặng bao gồm: tuổi, giới và tiền sử gia đình.

Tuổi: Vẹo gù cột sống thường bắt đầu phát triển ở lứa tuổi ngay trước tuổi dậy thì, thường từ 9 – 15 tuổi. Cần lưu ý rằng tuổi khởi phát càng nhỏ càng dễ tăng nặng. Giới tính: Bé trai và bé gái bị vẹo cột sống nhẹ tương đương nhau. Nhưng bé gái có nguy cơ vẹo cột sống nặng cao hơn bé trai và cần phải được điều trị. Tiền sử gia đình: Vẹo cột sống thường có tính gia đình.

Ảnh hưởng sức khỏe tinh thần và thể chất.

Trông thấy người gù lưng vẹo cột sống vẫn có thể sinh hoạt thường ngày, nhiều người nghĩ rằng nó chỉ làm xấu hình dáng bên ngoài mà không làm thay đổi gì bên trong cơ thể. Thưc tế, vẹo gù cột sống nặng có thể gây ra một số biến chứng cho tim phổi, đau lưng mạn tính và tâm sinh lý.

Thay đổi dáng vẻ bên ngoài: Gây mất thẩm mỹ, ảnh hưởng lớn đến tâm sinh lý, sức khỏe tinh thần của trẻ. Tổn thương phổi và tim: Trong trường hợp vẹo cột sống nặng, khung sườn cỏ thể đè ép vào phổi và tim làm cho trẻ khó thở, giảm sức co bóp của tim, rất ảnh hưởng đến sức khỏe cơ thể. Vấn đề ở lưng: Bệnh nhân vẹo cột sống có khuynh hướng bị đau lưng mạn tính nhiều hơn người bình thường.

Vì vậy, nếu ai ở trong trường hợp ba nguyên nhân nêu trên, có thể chú ý đến các triệu chứng được nêu ở đầu bài để có thể phát hiện sớm và đưa trẻ đi khám. Việc điều trị kịp thời, bằng ba phương pháp sẽ được nêu trong bài sau, sẽ lấy lại kịp thời cho trẻ vẻ đẹp hình hài và sức khỏe trong cuộc sống.

ThS. BS Nguyễn Thành Nhân

20-stock-photo-portrait-of-girl-in-profile-and-close-her-eye-with-green-background-model-is-a-asian-beauty-96382862

Bệnh đau nhức vai gáy

Cảm giác đau nhức vai gáy, cổ là triệu chứng không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến công việc mà còn báo hiệu nhiều bệnh nguy hiểm…

BS Hồ Phạm Thục Lan – BV Nhân dân 115 TP.HCM cho biết: Đau cổ thường xuất hiện sau một giấc ngủ, thường do đêm nằm nghiêng, co quắp, gập cổ, tay nên vùng này thiếu dưỡng khí sinh đau nhức, trường hợp này cơn đau chỉ diễn ra một vài ngày là rút lui. Đau nhức vùng cổ, vai gáy sau một ngày lao động tay chân chỉ cần được nghỉ ngơi sẽ hết đau. Các hoạt động như: ngồi làm việc trong nhiều giờ, có tư thế xấu trong khi xem ti vi hoặc đọc sách, đặt máy tính với tầm nhìn quá cao hoặc quá thấp, ngủ ở vị trí không thoải mái, hoặc thường xuyên thực hiện động tác xoay cổ quá tầm… Với những trường hợp này chỉ cần chỉnh sửa tư thế sao cho đúng sẽ giảm cơn đau. Viêm đường hô hấp trên cũng sinh đau nhức vai gáy. Trường hợp này chỉ cần điều trị hết bệnh là cơn đau nhanh chóng biến mất.

Đau nhức vai gáy do thoái hóa khớp là bệnh thường gặp khi cao tuổi: các khớp, mạch máu đã xơ cứng, hệ tuần hoàn không còn năng động như xưa nên cơ bắp thiếu dưỡng chất sinh đau nhức. Trường hợp này cần đi bác sĩ điều trị để được dùng thuốc, tập vật lý trị liệu. Thoát vị đĩa đệm cũng gây đau nhức vai gáy, với triệu chứng: đau, tê lan xuống vai và tay.

Các nguyên nhân khác có thể kể là: đau cơ xơ, thoái hóa đốt sống, gãy xương cột sống do loãng xương, hẹp ống sống, bong gân, nhiễm trùng cột sống (viêm tủy xương, áp xe…), ung thư (ung thư thực quản đoạn trên, ung thư vòm hầu…), viêm khớp có liên quan đến cột sống. Theo BS Hồ Phạm Thục Lan: “Hầu hết các trường hợp đau cổ sẽ tự cải thiện trong một-hai tuần với các thuốc giảm đau, kháng viêm thông thường, hơn 90% hết đau sau tám tuần. Tuy nhiên, một số ít trường hợp đau cổ do nguyên nhân nguy hiểm như nhiễm trùng, bệnh lý đốt sống thực thể, ung thư… thường đi liền với một số triệu chứng báo động như tê, yếu lan theo cánh tay, bàn tay; đau tăng khi nằm xuống và đánh thức bệnh nhân vào ban đêm; đau cổ kèm triệu chứng toàn thân nóng sốt, mệt mỏi, sụt cân; đau xuất hiện sau chấn thương, té ngã kèm yếu liệt chi; đau không thuyên giảm khi điều trị với thuốc. Trong những trường hợp này, bệnh nhân cần đến ngay một trung tâm y tế thực hiện một số xét nghiệm chuyên biệt để chẩn đoán bệnh gồm: chụp MRI cột sống cổ, đo điện cơ và tốc độ dẫn truyền thần kinh, chụp CT-scan đa lát cắt. Đối với trường hợp đau cổ do nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh hoặc tủy sống, phẫu thuật cột sống cổ có thể cần thiết nhưng chỉ thực hiện sau khi thất bại với điều trị nội khoa tích cực”.

Điều cần lưu ý

* Thói quen bẻ cổ. BS Thái Thị Hồng Ánh – BV Nguyễn Tri Phương TP.HCM cảnh báo: “Thói quen bẻ cổ nghe cái cái “rắc” hoặc lắc cổ nghe cái “cụp” tưởng chừng giảm đau nhức nhưng đây là động tác nguy hiểm. Vùng cổ gần thân não nơi điều khiển sinh tồn (trung khu hô hấp, trung khu tim mạch). Vì thế, bẻ cổ không đúng sẽ làm cho bệnh thoát vị đĩa đệm trầm trọng hơn, nặng hơn nữa là tử vong.”

* Tập luyện cho hết đau nhức là điều không nên. BS Hồ Phạm Thục Lan giải thích: “Bệnh nhân thường mắc sai lầm khi thấy đau thay vì nghỉ ngơi lại tập luyện quá sức khiến cho cơn đau trầm trọng hơn…”. Vì vậy, khi bị đau nhức vùng cổ, nhất là phụ nữ nên xoa bóp, nghỉ ngơi, chườm đá nóng, thư giãn giảm căng thẳng… bệnh sẽ giảm dần và hết.

Nen-an-gi-khi-bi-benh-loang-xuong-1-7dd87

Những lưu ý khi dùng thuốc trị loãng xương

Quá trình loãng xương có diễn biến âm thầm, kéo dài trong nhiều năm, sau 30 tuổi đã bắt đầu xuất hiện quá trình mất chất xương, mất khá nhiều (trên 50%), thường khoảng vào 50 – 70 tuổi thì triệu chứng đau mới xuất hiện, chủ yếu ở cột sống lưng hay thắt lưng.

Loãng xương ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh. Triệu chứng đau, còng lưng làm cho người bệnh gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, công việc và cảm giác mình già hơn, yếu hơn, thậm chí có khi gãy cổ xương đùi thực sự, biến người bệnh trở thành tàn phế. Vì vậy, trong sinh hoạt, làm việc, cần cẩn thận khi đi lại, nhất là những nơi trơn trợt, không để bị té ngã. Khi làm việc, cần tránh những động tác gây chèn ép cột sống như khuân vác nặng, gập mạnh cột sống về phía trước.

Lưu ý trong điều trị loãng xương

Dùng thuốc nào điều trị?

Khi điều trị loãng xương cần lưu ý, loãng xương phải được điều trị trong thời gian dài nhiều năm và các loại thuốc này hầu hết là đắt tiền như rocaltrol, miacalcic… thường phải kèm theo cung cấp canxi và nội tiết tố nữ khi cần thiết. Tùy theo dạng loãng xương, bác sĩ sẽ hướng dẫn cho bạn cách điều trị riêng theo từng loại. Bạn không nên tự ý dùng các loại thuốc này.

Các thuốc điều trị loãng xương có tác dụng rất chậm và không phải là thuốc giảm đau nên tình trạng đau có thể vẫn tồn tại và lúc này bác sĩ sẽ cho dùng thêm thuốc giảm đau. Các thuốc này đều có tác dụng phụ gây viêm loét dạ dày ít nhiều. Tốt nhất, bạn phải dùng theo chỉ định và theo dõi của bác sĩ.

Tránh dùng thuốc có thể gây loãng xương

Trong việc phòng ngừa bệnh, cần lưu ý tránh dùng kéo dài những loại thuốc có gây loãng xương, điển hình là thuốc có chứa corticoid. Đặc biệt dưới dạng thuốc uống hay thuốc tiêm, có loại tác dụng kéo dài 3 – 6 tháng. Thuốc có chứa corticoid thường bị lạm dụng để chữa các chứng đau nhức khớp vì giá rẻ, dễ mua mà tác dụng giảm sưng, giảm đau nhanh. Một số người lớn tuổi bị đau nhức khớp đã nghe lời mách bảo của người quen tự mua thuốc uống, vô tình làm trầm trọng thêm bệnh loãng xương.

Bên cạnh tác dụng chữa bệnh, corticoid còn có những tác dụng giữ muối và nước gây phù, tăng huyết áp, suy tim sung huyết, teo cơ, yếu cơ và loãng xương, loét dạ dày, nặng hơn là xuất huyết dạ dày, thủng dạ dày, rối loạn nội tiết, rối loạn kinh nguyệt, suy tuyến thượng thận, làm phát triển nặng thêm bệnh đái tháo đường, lao phổi, cườm mắt, tăng nhãn áp, giảm sức đề kháng nên dễ bị nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm lao và nhiễm nấm, teo da, teo cơ áp-xe tại chỗ tiêm.

Thực ra, thuốc corticoid không điều trị hết nguyên nhân gây bệnh mà chỉ làm giảm triệu chứng mà thôi. Nhưng với nhiều tác dụng phụ nguy hiểm nêu trên, chúng ta phải hết sức thận trọng khi dùng thuốc dạng corticoid. Hơn nữa, người bệnh cần ý thức rằng, không phải chỉ có loại thuốc này mới chữa được bệnh mà còn nhiều thuốc khác ít tác hại nhưng vẫn có tác dụng tốt. Bệnh nhân nên dùng thuốc dưới sự chỉ định, theo dõi, kiểm soát của bác sĩ, không nên tự dùng thuốc dù đây là thuốc rất dễ mua.

Phòng ngừa loãng xương

Vấn đề phòng ngừa loãng xương thật sự cần thiết trên những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương như người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh…

Ăn uống: Trong ăn uống, nên ăn thêm một số chất chứa nhiều canxi như: rau xanh, tôm, cua, thịt, trứng. Có thể dùng thêm sữa. Nên dùng loại sữa chứa nhiều canxi, ít ngọt, không béo. Nhưng cần lưu ý không nên ăn quá nhiều, dễ dẫn đến dư thừa chất dinh dưỡng, thậm chí là béo phì.

Tập thể dục thể thao đều đặn mỗi ngày: Thực tế cho thấy, những người ít vận động, không tập thể dục thể thao, nhất là những trường hợp bị liệt hay phải nằm điều trị lâu tại giường thì quá trình loãng xương xảy ra nhanh hơn bình thường. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hoạt động thể dục thể thao, vận động cơ bắp làm hạn chế quá trình mất xương và giúp tăng quá trình tạo xương.

Loãng xương là bệnh diễn ra âm thầm trong nhiều năm, lúc đầu còn nhẹ bệnh không có bất kỳ biểu hiện gì nên người bệnh không biết hoặc chủ quan không lo điều trị sớm. Đối với bệnh loãng xương việc ngừa bệnh và phát hiện bệnh sớm rất quan trọng, nhất là những người bước vào tuổi trung niên, phụ nữ sau tuổi mãn kinh, những trường hợp đang dùng thuốc có thể gây loãng xương.

ThS.BS. Phan hữu phước

1383844254927-crop1383844487217p

Nguyên nhân của căn bệnh đau lưng

Có thể bạn chưa nghĩ tới nhưng chính sự căng thẳng, thói quen đi giày cao gót hay những thiết bị di động … chính là căn nguyên cho những cơn đau lưng của bạn

Một cuộc khảo sát được thực hiện bởi Hiệp hội Thần kinh cột sống Anh cho thấy, phần lớn những cơn đau lưng hay đau cổ chỉ đơn giản là do tác động tích lũy của lối sống mỗi ngày.

Tư thế ngồi

Ngồi gập người bên máy tính cả ngày có thể gây ra cơn đau lưng của bạn. Hãy đứng dậy và đi bộ khoảng hai phút, ít nhất một lần một giờ. Tránh uốn cong người về phía trước và giữ tư thế thẳng khi ngồi.

Giày

Giày cao gót gây ra vấn đề bởi chúng ép chân về phía trước, thay đổi góc độ của cơ thể và tạo ra sự phân bố không đều áp lực trên cột sống. Tất cả những thứ này có thể gây đau đầu gối, sau đó là đau lưng.

Áo ngực

Một chiếc áo ngực không phù hợp có thể gây đau cổ và cơ bắp, trong khi một chiếc áo ngực phù hợp giúp giảm thiểu độ cong người về phía trước và làm giảm đau.

Bụng "bia"

Bụng to sẽ khiến cột sống không có đủ sự hỗ trợ của các cơ bụng, vì thế gây ra căng thẳng quá mức ở phần lưng dưới của bạn.

Căng thẳng

Cơ bắp của bạn sẽ căng thẳng khi bạn bắt đầu cảm thấy đang chịu áp lực. Căng thẳng cũng khiến nồng độ hormone cortisol tăng cao, làm tăng viêm nhiễm trong cơ thể, làm cho cơn đau càng tồi tệ hơn.

Các thiết bị di động

Các tư thế sử dụng điện thoại, máy tính bảng và máy tính xách tay tạo áp lực lên cơ ở cổ và gây đau cơ, sau đó là đau cột sống và đau lưng.

Theo Suckhoegiadinh.edu.vn

goc-veo-cot-song

Phương pháp điều trị gù vẹo cột sống cho trẻ

Nếu bạn đọc nghĩ đến việc điều trị gù vẹo cột sống cho trẻ nhỏ, các hướng dẫn dưới đây của chuyên gia sẽ giúp bạn sẵn sang một cái nhìn xa và sâu về các bước sẽ trải qua.

Khám và chẩn đoán

Bác sĩ, đơn giản nhất, sẽ khám nghiệm cúi lưng để xem cột sống của bé có bị vẹo gù hay không. (Hy vọng là không phải!).

Ngoài ra, còn phải xem xét cẩn thận tình trạng thần kinh-cơ gồm:

Yếu cơ Tê mất cảm giác Phản xạ bất thường

Nếu cần, bác sĩ sẽ cho chụp phim X-quang cột sống quy ước và một số tư thế đặc biệt. Có thể phải làm thêm: chụp cộng hưởng từ cột sống, chụp cắt lớp tái tạo 3D, xạ hình xương.

Điều trị đối với mức gù vẹo nhẹ

Góc Cobb

Phần lớn trẻ bị vẹo cột sống nhẹ chỉ cần theo dõi mà không cần phải mang áo nẹp hay phẫu thuật gì cả. Cần theo dõi sát mỗi 4 – 6 tháng.

Mặc dù đã có phác đồ điều trị cho vẹo cột sống nhẹ (góc vẹo, góc Cobb ≤ 200), trung bình (góc Cobb 200 – 400), nặng (góc Cobb ≥ 400), quyết định điều trị phải căn cứ trên tình trạng của từng cá nhân. Bác sĩ sẽ xem xét các yếu tố gồm:

Giới tính: Bé gái có nguy cơ tăng nặng hơn bé trai. Mức độ nặng của vẹo. Tính chất của đường cong: 2 đường cong dạng chữ S có khuynh hướng nặng hơn dạng chữ C. Vị trí đường cong: Vẹo ở trung tâm (cột sống ngực) thường diễn tiến nặng hơn vẹo ở phần trên hoặc dưới. Độ trưởng thành xương: Nếu trẻ đã ngừng phát triển xương, nguy cơ tăng nặng sẽ giảm. Điều đó có nghĩa là áo nẹp chỉ có hiệu quả nhất ở những trẻ còn đang phát triển.

Áo nẹp cho mức độ gù vẹo trung bình

Nếu trẻ vẫn còn đang phát triển và vẹo cột sống mức độ trung bình – góc Cobb 200 – 400, bác sĩ sẽ khuyên mang áo nẹp.

Nên lưu ý là áo nẹp không giúp điều trị khỏi vẹo cột sống mà chỉ giúp ngăn ngừa vẹo cột sống tăng nặng thêm. Hầu hết áo nẹp được mặc cả ngày và đêm.

Việc mặc áo nẹp sẽ chấm dứt khi bộ xương ngừng phát triển, thường ở vào các thời điểm:

Khoảng 2 năm sau khi bé gái có kinh nguyệt. Khi bé trai phải cạo râu thường xuyên. Khi trẻ không còn cao thêm.

Và phẫu thuật

Vẹo cột sống nặng sẽ diễn tiến ngày càng nặng thêm, bác sĩ sẽ quyết định phẫu thuật để điều chỉnh độ cong và ngăn ngừa diễn tiến nặng thêm.

Hầu hết phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống là phẫu thuật hàn xương, làm hàn dính các đốt sống lại với nhau bằng cách đặt dụng cụ nắn chỉnh cột sống cùng với ghép xương tự thân (xương của chính bệnh nhân) để giữ cho cột sống được thẳng và lành xương.

Trong trường hợp em bé còn quá nhỏ, việc hàn xương sớm sẽ làm cột sống ngắn lại ảnh hưởng đến chức năng tim-phổi. Khi đó, bác sĩ sẽ đặt một dụng cụ đặc biệt là thanh tăng trưởng để giúp chỉnh nhưng ít làm ảnh hưởng đến sự phát triển cột sống.

Biến chứng của phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống khá nhiều và nặng nề, bao gồm: chảy máu, nhiễm trùng, đau đớn, tổn thương tủy và rễ thần kinh dẫn đến liệt hạ chi, không lành xương – khớp giả…

Phẫu thuật nắn chỉnh vẹo cột sống thật sự là một thử thách rất lớn đòi hỏi phải có phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm và tận tâm.

Vật lý trị liệu

Tuy không giúp điều trị được vẹo cột sống, vật lý trị liệu kết hợp với thể dục liệu pháp có thể giúp ngăn ngừa diễn tiến nặng và giúp nâng cao thể trạng của bé.

ThS. BS Nguyễn Thành Nhân

kham1-9448-1384245649

Những bệnh cơ xương khớp ở trẻ cần lưu ý

Cha mẹ không nên chủ quan khi trẻ bị đau khớp gối, khớp háng hay đau cột sống dai dẳng. Theo tiến sĩ Phạm Quang Thuận, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Thể thao Việt Nam, có nhiều bệnh lý cơ xương khớp ở trẻ em cha mẹ cần đặc biệt lưu ý để tránh biến chứng nguy hiểm về sau:

1. Đau cơ, đau xương phát triển

Đây là loại bệnh cơ xương khớp rất hay gặp ở trẻ em, phổ biến ở trẻ từ 6 đến 12 tuổi. Bệnh tiến triển là do trẻ hoạt động quá mức hoặc lớn quá nhanh, xương phát triển chậm không theo kịp sự phát triển của cơ bắp. Biểu hiện của bệnh là đau chân dai dẳng, khó cử động. Trẻ thường đau vào buổi tối sau một ngày hoạt động.

Trẻ từ 12 đến 16 tuổi cũng thường xuyên mắc bệnh Osgood-Schlatter gây sưng đau ở vùng lồi củ trên xương chày, ngay dưới xương bánh chè, do vận động khớp quá mức. Bệnh gây viêm xương chày ngay phía dưới đầu gối, chỗ dây chằng rộng gắn vào. Dấu hiệu đặc trưng gồm căng cơ, đau và sưng ngay bên dưới gối và thường đau nhức hơn khi cử động.

Nếu đã bị bệnh, trẻ cần ngưng tất cả hoạt động thể lực cho đến khi khớp gối lành hẳn, trường hợp đau ít có thể tiếp tục vận động nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Bệnh Osgood-Schlatter chỉ là tạm thời, và sẽ hết đau sau khi xương trẻ ngừng tăng trưởng ở độ tuổi trưởng thành.

2. Thấp khớp

Bệnh thấp khớp thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi, bệnh phát triển mạnh vào mùa đông, hoặc mỗi khi thay đổi thời tiết.

Bệnh thường khởi đầu bằng viêm họng đỏ cấp tính, sốt và đau họng. Sau 7-10 ngày bệnh nhân có thể sốt cao, mệt mỏi, xanh xao, sưng, nóng đỏ và đau các khớp lớn như khớp vai, háng… kéo dài chừng 5-7 ngày rồi khỏi, không để lại di chứng gì.

Khi đã có chẩn đoán thấp khớp cấp, trẻ phải được điều trị phòng thấp để ngăn chặn sự tái phát và tránh tổn thương tim mạch.

3. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi

Bệnh này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, là nguyên nhân hay gặp nhất trong các bệnh lý khớp háng.

Cơ chế gây hoại tử chỏm xương đùi thường do thiếu máu nuôi dưỡng sau gãy cổ xương đùi di lệch hoặc trật khớp háng; tắc nghẽn mạch do trật khớp háng, tăng áp lực trong xương, nhiễm độc… Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi khiến bệnh tiến triển có thể kể đến như dùng Steroid dài ngày, nghiện rượu, thuốc lá, mắc bệnh gan, thận mãn tính…

Tùy vào từng trường hợp mà các bác sĩ cho dùng thuốc, kích thích điện hay tiến hành khoan giảm áp, ghép xương, đục xương sửa trục… Khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, các bác sĩ sẽ phải thay khớp háng nhân tạo giúp người bệnh hết đau, cải thiện chức năng khớp háng, đi lại, vận động tốt.

4. Viêm cột sống dính khớp

Trẻ từ 8 đến 15 tuổi rất dễ mắc phải loại bệnh này. Biểu hiện của bệnh là đau cột sống lưng, lưng cứng, hạn chế vận động, đi lại khó khăn. Người bệnh sốt, gầy sút, mệt mỏi. Khi bệnh đã rõ, cột sống thắt lưng đau nhiều, tình trạng đau thường nặng về đêm, cứng cột sống, nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.

Khi thấy trẻ có những biểu hiện này nên đưa đi khám tại các chuyên khoa xương khớp để bác sĩ ra phác đồ điều trị càng sớm càng tốt. Bệnh diễn biến kéo dài có thể có những tổn thương nội tạng kèm theo. Sau một thời gian toàn bộ cột sống dính không còn khả năng vận động, bệnh nhân có thể bị gù, vẹo cột sống, không đứng thẳng, không ngồi xổm được. Bệnh còn có thể gây ra những biến chứng như suy hô hấp, tâm phế mãn, lao phổi, liệt hai chi dưới.

Ở giai đoạn sớm của bệnh, các bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng thuốc kết hợp với các biện pháp vật lý trị liệu nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến vận động của cột sống và khớp. Khi bệnh đã phát triển quá nặng, bên cạnh các điều trị nội khoa và vật lý trị liệu, phẫu thuật là biện pháp có thể cải thiện được về chức năng và hình thái của người bệnh.

5. Biến dạng cột sống (học đường)

Thường xảy ra ở trẻ trong độ tuổi cắp sách tới trường. Nguyên nhân có thể do trẻ đeo ba lô quá nặng, ngồi học không đúng tư thế…

Biểu hiện của bệnh rất dễ phát hiện như đi lệch về một bên, ngồi xiên xẹo, thường xuyên nhức mỏi lưng.

Cha mẹ nên quan tâm đến tư thế ngồi học của con và không cho chúng mang vác quá nhiều đồ nặng trên vai tránh trẻ bị biến dạng cột sống, tạo dáng đi xấu sau này. Trẻ bị biến dạng cột sống có thể sẽ phải nẹp đai cột sống để lấy lại dáng lưng thẳng.

Theo Kienthucsuckhoe.edu.vn